Các Module Bồi Dưỡng Thường Xuyên Cán Bộ Quản Lý Tiểu Học, Bộ Tài Liệu Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên

hoatieu.vn xin gửi tới thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý QLPT 03theo Thông tư 18/2019/TT-BGDĐT để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch là bài thu hoạch về phát triển chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ quản lý cơ sở GDPT.Bạn đang xem: Các module bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý tiểu học

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018Cách đăng nhập Chương trình tập huấn và bồi dưỡng Giáo viên

Bài thu hoạch BDTX cán bộ quản lý QLPT 03

Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo nhằm giúp đỡ các thầy cô có tài liệu tự viết bài thu hoạch cho bản thân mình.

Bạn đang xem: Các module bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý tiểu học

1. Đặt vấn đề

Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân lần này là việc thay đổi mục tiêu GDPT một cách căn bản: nhằm giúp học sinh phát triển khả năng vốn có của bản thân, hình thành tính cách và thói quen; phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động cần cù, có tri thức và sáng tạo.

Ðội ngũ đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông (CBQLCSGDPT) nói riêng có vai trò quan trọng, là một trong những lực lượng trực tiếp góp phần hoạch định và thực hiện thắng lới chương trình đổi mới giáo dục phổ thông.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDÐT), để thật sự nâng cao chất lượng đội ngũ CBQLCSGDPT phải tổ chức bồi dưỡng và đánh giá CBQLCSGDPT theo chuẩn năng lực. Vấn đề đặt ra là hệ thống năng lực của CBQLCSGDPT bao gồm những năng lực cụ thể nào? Cần có các giải pháp nào để bồi dưỡng đội ngũ CBQLCSGDPT đáp ứng đổi mới chương trình GDPT?

2. Năng lực và phân loại năng lực

2.1. Năng lực

Năng lực là một khái niệm trừu tượng, đa nghĩa, do đó, có nhiều cách phát biểu về khái niệm năng lực. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này. Điểm chung của các cách phát biểu về khái niệm năng lực chính là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống. Năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả (1).

2.2. Phân loại năng lực

Năng lực con người nói chung và năng lực của CBQLCSGDPT nói riêng có thể chia thành hai loại chính: năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt.

2.1.1. Năng lực chung: là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển liên quan đến nhiều môn học. Đây là loại năng lực được hình thành xuyên chương trình. Năng lực chung là hết sức quan trọng, đó chính là kỹ năng tối thiểu mà một con người có thể sống hòa đồng và phát triển trong một cộng đồng.

2.1.2. Năng lực cụ thể, chuyên biệt: là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó. Đây là dạng năng lực chuyên sâu, góp phần giúp mọi người giải quyết các công việc chuyên môn trong lĩnh vực công tác hẹp của mình. Năng lực chỉ có thể thấy được khi quan sát hoạt động của học viên ở các tình huống nhất định. Năng lực được hình thành không chỉ trong quá trình học tập tại trường mà cả ngoài trường và xã hội.

3. Hệ thống năng lực của cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông

3.1. Năng lực cơ bản của con người trong thời kỳ hội nhập

Có nhiều nghiên cứu riêng biệt về năng lực làm việc của cá nhân, mỗi nghiên cứu với các góc độ khác nhau lại đưa ra những nhận định khác nhau nhưng đều có sự đồng thuận về những năng lực cơ bản (Xem hình 1).

*

Hình 1: Năng lực cơ bản của con người trong thời kỳ hội nhập (3)

Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông là người chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ hoạt động của nhà trường mình nên hơn ai hết CBQLCSGDPT phải là người có được các năng lực cơ bản nói trên. Trong 10 năng lực cơ bản này có hai năng lực thuộc năng lực chuyên biệt của CBQL nói chung, đó là năng lực tổ chức, quản lý và năng lực lao động nghề nghiệp, chuyên biệt của người CBQL.

3.2. Những vấn đề cần được ưu tiên trong bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông

3.2.1. Xây dựng chiến lược: là những kiến thức và kỹ năng cần thiết để xác định tầm nhìn, nhận dạng sứ mệnh, xây dựng chiến lược phát triển của nhà trường.

3.2.2. Quản lý nguồn nhân lực: việc xây dựng chính sách tuyển dụng, quy trình tuyển chọn, bố trí công việc, phân công nhiệm vụ, đánh giá, đãi ngộ, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên.

3.2.3. Quản lý tài chính: Khó khăn cho nhà trường phải hoạt động theo tư duy của một doanh nghiệp để tạo ra nguồn thu, nhưng lại không được áp dụng các giải pháp doanh nghiệp, vì nhà trường không phải là đơn vị kinh doanh. Chính các CBQLCSGDPT phải tìm ra trong thực tiễn công tác quản lý của mình.

3.2.4. Hệ thống thông tin quản lý giáo dục: giúp CBQLCSGDPT thực hiện tốt các chức năng quản lý, nâng cao được năng lực quản lý của mình qua quá trình thu thập, chọn lọc, phân loại, xử lý, truyền đạt và khai thác thông tin.

3.2.5. Đánh giá trong giáo dục: Yêu cầu nhà trường phải có trách nhiệm giải trình đầy đủ với tính minh bạch cao về kết quả thực hiện giáo dục, của nhà trường trước nhà nước, xã hội và cộng đồng. Việc xây dựng các chỉ tiêu thực hiện giáo dục là cần thiết. Đồng thời công tác kiểm định chất lượng trở thành hoạt động phổ biến.

3.2.6. Phân cấp quản lý: cấp trường được trao quyền quyết định nhiều hơn trong phạm vị các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ được giao. Bên cạnh công việc quản lý chuyên môn, CBQLCSGDPT phải lo giải quyết hàng loạt công việc bất thường về tổ chức, nhân sự, tài chính… mà lời giải không phải lúc nào cũng có sẵn.

3.2.7. Dân chủ hóa giáo dục: yêu cầu CBQLCSGDPT phải có những năng lực mới, đặc biệt là kỹ năng quan hệ với con người, kỹ năng liên nhân cách, kỹ năng giao tiếp và biết lựa chọn phong cách lãnh đạo phù hợp để quản lý thành công.

3.2.8. Thị trường hóa giáo dục: là hiện thực không thể chối cãi đang hình thành và cán bộ quản lý giáo dục nói chung, CBQLCSGDPT nói riêng đang phải đương đầu với những vấn đề đặc biệt mới mẻ về cơ hội, thách thức, lợi ích và rủi ro (2).

Xem thêm: Diễn Viên Kiều Anh Sinh Năm Bao Nhiêu, Kiều Anh Dốc Cạn Thanh Xuân Cho Múa

Những thay đổi nêu trên trong công việc của CBQLCSGDPT đòi hỏi những thay đổi tương ứng về kiến thức, kỹ năng, thái độ so với những gì người CBQLCSGDPT được đào tạo, bồi dưỡng trước đây.

3.3. Hệ thống năng lực của cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông trong thời kỳ hội nhập

Từ những năng lực cơ bản của con người trong thời kỳ hội nhập và những vấn đề cần được ưu tiên trong bồi dưỡng CBQLCSGDPT, chúng tôi đề xuất hệ thống năng lực CBQLCSGDPT trong thời kỳ hội nhập theo hình 2 dưới đây:

*

Hình 2: Hệ thống năng lực của CBQLCSGDPT trong thời kỳ hội nhập

4. Các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

4.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

– Cần tiếp tục rà soát, bổ sung chuẩn Hiệu trưởng các trường phổ thông cho phù hợp với chương trình đổi mới GDPT.

– Tăng cường bồi dưỡng cho đội ngũ CBQLGDPT theo hướng chuẩn hóa. Thống nhất nội dung, chương trình bồi dưỡng CBQLGDPT theo các chuẩn đầu ra dựa trên hệ thống tiêu chuẩn năng lực đã xác định.

– Lựa chọn cấp phép bồi dưỡng CBQLGDPT cho các cơ sở chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và uy tín trong công tác bồi dưởng CBQLGDPT.

– Tạo điều kiện bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo bồi dưỡng CBQLGDPT được tập huấn ở nước có nền quản lý giáo dục tiên tiến.

– Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cấp văn bằng chứng chỉ và công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng, thực hiện chế độ làm việc của đội ngũ CBQLGDPT;

4.2. Đối với các sở Giáo dục và Đào tạo

– Thực hiện đầy đủ việc bồi dưỡng thường xuyên cho toàn thể CBQLGDPT nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý.

– Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ CBQLGDPT ở tỉnh, thành phố. Hàng năm đề xuất với Bộ GDĐT hoặc hợp đồng với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có chức năng để tổ chức bồi dưỡng cho CBQLGDPT của địa phương.

– Kết hợp với Bộ GDĐT và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đôn đốc, kiểm tra nghiêm túc các lớp bồi dưỡng, đảm bảo chất lượng các khóa bồi dưỡng.

– Thực hiện đánh giá CBQLGDPT theo hệ thống tiêu chuẩn năng lực đã xác định.Quy định CBQLGDPT phải có bằng hoặc chứng chỉ quản lý CSGD do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBQLGDPT có chức năng cấp mới được xem xét tuyển dụng, bổ nhiệm làm CBQLGDPT.

4.3. Đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục

– Đổi mới mục tiêu bồi dưỡng CBQLGDPT theo tiếp cận năng lực: Trong chương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả chi tiết thông qua hệ thống các năng lực và có thể quan sát, đánh giá được. Với cách tiếp cận này, mục tiêu của đào tạo CBQLGDPT là hình thành ở học viên các năng lực cần thiết để họ thực hiện công việc của người CBQLGDPT theo hệ thống tiêu chuẩn năng lực.

– Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng CBQLGDPT theo tiếp cận năng lực: Chương trình bồi dưỡng được xây dựng dựa trên tiếp cận mục tiêu thể hiện dưới dạng các tiêu chuẩn đầu ra chính là các năng lực cần thiết của CBQLGDPT; chúng được coi như­­­­ là kết quả, đầu ra của quá trình bồi dưỡng.

– Đổi mới phương thức và phương pháp tổ chức bồi dưỡng CBQLGDPT theo tiếp cận năng lực: Đặt trọng tâm vào việc giải quyết vấn đề, vào việc hình thành năng lực cho học viên hơn là tập trung vào giải quyết nội dung chương trình. Vì vậy, phương thực và phương pháp bồi dưỡng theo tiếp cận năng lực thể hiện ở hai khía cạnh: Bồi dưỡng dựa trên công việc và bồi dưỡng tại nơi làm việc.

– Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng CBQLGDPT theo tiếp cận năng lực: Việc đánh giá năng lực của HV trong quá trình bồi dưỡng CBQLGDPT được thực hiện trong mối liên hệ so sánh với các tiêu chuẩn, tiêu chí chứ không có liên hệ so sánh gì với sự thực hiện hay thành tích của người khác.

– Đổi mới quản lý bồi dưỡng CBQLGDPT theo tiếp cận năng lực: Đòi hỏi phải đổi mới căn bản về cơ chế quản lý, đặc biệt là đổi mới quản lý chương trình và hình thức tổ chức bồi dưỡng, cụ thể là: Để xác định một người đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng, cần căn cứ vào sự thông thạo hệ thống tiêu chuẩn năng lực của người CBQLGDPT.

– Tăng cường thiết bị phục vụ cho việc dạy và học: đặc biệt đầu tư máy móc, trang thiết bị hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho CBQLGDPT truy cập tài liệu và áp dụng phương pháp dạy học tích cực có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.

5. Kết luận

Năng lực của CBQLCSGDPT là nhân tố quan trọng bậc nhất, góp phần đổi mới và phát triển giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Thực tiễn đòi hỏi, người CBQLCSGDPT cần phải được đào tạo, bồi dưỡng năng lực ngay trong quá trình đào tạo ở nhà trường và bồi dưỡng thường xuyên và liên tục trong hoạt động nghề nghiệp.

Để nâng cao năng lực, sử dụng, bổ nhiệm CBQLGDPT theo hướng chuẩn hóa các cơ quan quản lý nhà nước về GDĐT cần lựa chọn phối hợp với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBQLGD có kinh nghiệm và uy tín xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai, đôn đốc, kiểm tra, đánh nghiêm túc các lớp bồi dưỡng, đảm bảo chất lượng các khóa bồi dưỡng CBQLGDPT ở từng địa phương và cả nước.

Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục đào tạo trong mục biểu mẫu nhé.

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý QLPT 02Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý QLPT 01Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Module GVPT 02

THEO DÕI https://tuhoangmobile.com/ ĐỂ CẬP NHẬT THÊM CÁC THÔNG TIN MỚI KHÁC NHÉ.

You May Also Like

About the Author: Nguyễn Đức Chung

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *